Fce8f90f6e6db133e87c

Thách thức ngành Dệt May Việt Nam năm 2023

Ngành Dệt May Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức trong quý I năm 2023 khi các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi sự cắt giảm đơn hàng từ khách hàng do lo ngại về tiêu thụ và việc chưa đẩy bớt hàng tồn kho.

Theo ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam 3 tháng đầu năm 2023 ước đạt 8,701 tỷ USD, giảm 18,63% so với cùng kỳ năm 2022. Tính riêng tháng 3/2023, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam ước đạt 3,298 tỷ USD, tăng 18,11% so với tháng trước nhưng giảm 12,91% so với cùng kỳ năm ngoái. Đại diện Hiệp hội Dệt May Việt Nam (Vitas) cho biết thực tế dự báo cầu thị trường có dấu hiệu ấm lên nhưng vẫn còn rất thấp, lượng hàng tồn kho sợi của thế giới vẫn ở mức cao và giá bông đã xuống quá thấp nên giá sợi khó có thể cải thiện trong ngắn hạn. Nhu cầu về các mặt hàng sợi đã có cải thiện nhưng không đáng kể, lượng hàng tồn kho tại nhiều doanh nghiệp tăng cao, thậm chí lên đến 1 tháng sản xuất.

Ngành Dệt May đang đối mặt với những thách thức rất lớn trong năm 2023 (Ảnh: Nhà máy Trần Hiệp Thành)

Hiệp hội Dệt May Việt Nam dự báo rằng ngành sợi sẽ không hồi phục đến hết quý II năm 2023 và tình trạng thiếu đơn hàng, đơn hàng nhỏ lẻ, số lượng ít và đơn giá thấp sẽ kéo dài đến hết quý 3. Các đơn hàng may mặc dự kiến sẽ giảm khoảng 25-30% so với cùng kỳ năm 2022.

Mỹ vẫn là nhà nhập khẩu lớn nhất sản phẩm dệt may của Việt Nam và giảm lạm phát tại Mỹ sẽ khiến tâm lý người tiêu dùng tích cực hơn và các doanh nghiệp bán lẻ sẽ có thể bắt đầu nhập hàng tồn kho trở lại. Trung Quốc mở cửa trở lại cũng có thể là “con dao hai lưỡi” với các doanh nghiệp ngành Dệt May Việt Nam. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu sợi chính của Việt Nam, chiếm 48% tổng giá trị xuất khẩu. Các doanh nghiệp sản xuất sợi có tỷ trọng xuất khẩu sang Trung Quốc cao sẽ tận dụng được lợi thế này. Ngoài ra, việc một số mặt hàng xuất khẩu ròng của Trung Quốc được lưu thông trở lại cũng có thể giúp giảm chi phí đầu vào của doanh nghiệp may mặc.

Theo đó, các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam cần phải cải thiện hiệu quả sản xuất, tìm kiếm các kênh tiêu thụ mới và đa dạng hóa sản phẩm để tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường. Ngoài ra, cần tập trung vào nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, đáp ứng được yêu cầu của khách hàng để thu hút thêm đơn hàng.

Trong quý 1/2023, trước tín hiệu xấu của thị trường, đơn hàng của Trần Hiệp Thành cũng giảm khoảng 20% so với cùng kỳ. Tuy vậy, theo chia sẻ của ông Trần Quốc Chiến, Phó Tổng Giám đốc thì nhờ những giải pháp chủ động từ sớm nên mức độ sụt giảm đơn hàng vẫn nằm trong vùng kiểm soát. Vượt qua hơn 2 năm đại dịch COVID-19, Trần Hiệp Thành đã đúc kết và rút được nhiều kinh nghiệm quý để thích ứng với thị trường và khách hàng, cũng như xây dựng giải pháp khắc phục sự gián đoạn của chuỗi cung ứng về nguyên phụ liệu.

Còn với bối cảnh hiện nay, khi người tiêu dùng thắt chặt hầu bao, giảm chi tiêu các mặt hàng tiêu dùng không thiết yếu, để đứng vững, Trần Hiệp Thành lại tập trung mạnh hơn cho công tác thương hiệu, trong đó tập trung vào việc định vị về sản phẩm, định vị về thị trường và định vị về quản trị, công nghệ, mô hình sản xuất để phù hợp trong việc phát triển bền vững.

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp dệt, nhuộm và công nghiệp hỗ trợ là định hướng chủ chốt cho tương lai (Ảnh: Nhà máy Trần Hiệp Thành)

Mới đây, Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 1643/QĐ-TTg phê duyệt “Chiến lược phát triển ngành Dệt May và Da giầy Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035”. Đối với ngành Dệt May, chiến lược đặt kỳ vọng tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2021 – 2030 đạt 6,8 – 7,2%/năm, trong đó giai đoạn 2021 – 2025 phấn đấu đạt 7,5 – 8,0%/năm. Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt 50 – 52 tỷ USD và năm 2030 đạt 68 – 70 tỷ USD.

Nguyên liệu là vấn đề nan giải nhất của ngành Dệt May bấy lâu nay. Vì vậy, để thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ (CNHT) dệt may phát triển, theo Chiến lược, ngành Dệt May phấn đấu tỷ lệ nội địa hóa ngành giai đoạn 2021 – 2025 đạt 51% – 55% và giai đoạn 2026 – 2030 đạt 56% – 60%.

Định hướng cũng xác định phải đẩy mạnh phát triển công nghiệp dệt, nhuộm và công nghiệp hỗ trợ. Nâng cao tỷ lệ nội địa hóa ngành dệt may, là một trong những chỉ tiêu quan trọng của Chiến lược phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ Dệt May trong giai đoạn 2021 – 2030 để nâng cao hiệu quả sản xuất và tối đa hóa lợi ích thu được từ các hiệp định tự do thương mại. Đầu tư phát triển mạnh các mặt hàng dệt kim, dệt thoi là những sản phẩm có khả năng kết nối các khâu sản xuất sợi, may mặc. Trần Hiệp Thành đầu tư phát triển các mặt hàng mang tính bảo vệ và thân thiện môi trường như: Recycle, Dope Dyed… Đây cũng là định hướng mà Công ty cổ phần dệt Trần Hiệp Thành đã và đang tiếp tục phát triển trong tương lai; chuyển dần trọng tâm sang phát triển bền vững, kinh doanh tuần hoàn, gia tăng giá trị sản phẩm, gia tăng hàm lượng sáng tạo, Công ty đang đặt ra mục tiêu đầy tham vọng để vươn lên thứ hạng cao hơn trong chuỗi giá trị ngành Dệt May tại Việt Nam.

Tiếp cận thị trường mới là một trong những giải pháp cho ngành Dệt May Việt Nam (Ảnh: máy ghép sợi tại Nhà máy HappyTex – thành viên của Trần Hiệp Thành)

Để đạt được mục tiêu nội địa hóa ngành Dệt May, không chỉ cần sự đầu tư vào phát triển công nghiệp hỗ trợ mà còn cần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm, áp dụng công nghệ tiên tiến và cải thiện quy trình sản xuất.

Trong tổng thể, dù đang phải đối mặt với nhiều thách thức và khó khăn, Dệt May Việt Nam vẫn đang có nhiều cơ hội để phát triển. Quan trọng nhất là các doanh nghiệp cần có sự linh hoạt và sẵn sàng thích nghi với thị trường để tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Đây cũng là thời điểm để các doanh nghiệp trong ngành Dệt May Việt Nam tìm cách tiếp cận các thị trường mới nhằm giảm thiểu rủi ro khi phụ thuộc quá nhiều vào một số thị trường lớn như Mỹ và Trung Quốc. Các thị trường tiềm năng có thể là châu Âu, Châu Phi, Trung Đông hoặc các nước trong khu vực ASEAN. Việc khai thác các thị trường mới cũng sẽ giúp đảm bảo sự đa dạng hóa nguồn cung và giảm thiểu tác động từ các biến động trên thị trường toàn cầu.

Theo Mai Phương (congnghieptieudung.vn)

Search